VIEPortal.org
Đang tải dữ liệu...

Trang chủGiới thiệuTin tứcKiến thức về phòng, chống DopingTư vấnThư viện sốLiên hệE-mail
 
 
 
Tin tức - Sự kiện - Thể thao
 

Doping thể thao: Vấn nạn chưa kết thúc

KIỀU MINH HOÀNG
Doping và doping trong thể thao hiện nay là một trong những vấn đề mang tính thời sự nóng bỏng nhất. Từ những vụ việc doping nổi tiếng như Lance Amstrong (xe đạp), Marion Jones (điền kinh), Maradona (bóng đá)… và gần đây nhất là scandal doping khủng khiếp nhất của Nga đã dấy lên một hồi chuông báo động về vấn nạn này. Gần đây nhất, trong hai ngày 22 và 23/5, tại Hàng Châu (Trung Quốc), hội nghị Bộ trưởng Liên chính phủ châu Á, châu Đại Dương lần thứ 14 về Phòng chống doping trong thể thao cũng đã một lần nữa đề cập đến tình trạng này. Đó là tình trạng lạm dụng doping trong tập luyện và thi đấu thể thao ngày một nhiều và ngày càng tinh vi.

Lớp tập huấn lấy mẫu xét nghiệm doping của VADA
Doping là gì và tại sao cấm sử dụng doping trong thi đấu thể thao?
Khi một VĐV sử dụng phương tiện, một chất nào đó để tăng lực và nâng cao thành tích thi đấu một cách bất hợp pháp, ta gọi là doping! Vậy doping là gì? Trước đây khá lâu “Doping là sử dụng những chất có nguồn gốc hóa học được tổng hợp, không thuộc các hợp chất thiên nhiên…” thì digitalin (thuốc trợ tim, là hợp chất thiên nhiên được chiết xuất từ một loài thực vật) được phép sử dụng (thực tế thuốc này bị cấm). Hoặc theo một định nghĩa khác đã được sử dụng “… chất dùng cho mục đích là chất kích thích không có giá trị dinh dưỡng nhằm mục đích nâng cao thành tích một cách giả tạo”, thì thiếu chính xác bởi vì không chỉ có chất kích thích mà còn có các chất trấn an (calmantes), thuốc lợi tiểu cũng bị cấm (vậy ta đừng lầm cứ nói đến doping là chỉ nghĩ đến chất kích thích). Năm 1963, Hội nghị lần đầu tiên của các nước châu Âu bàn về doping chấp nhận định nghĩa: “Doping là sử dụng các chất hoặc phương tiện nào đó nhằm mục đích nâng cao một cách giả tạo thành tích trong thi đấu mà việc này làm tổn hại nền đạo đức thể thao và làm tổn hại sự toàn vẹn thể chất và tinh thần của VĐV”.
Doping là tên gọi chung của các chất kích thích. Doping có 3 dạng thông dụng là: Doping máu (tăng cường vận chuyển oxy qua hồng cầu) như ESP (Erythropoetin), NESP (Darbapoetin). Doping cơ (tăng cường sức mạnh của cơ do tăng cường sản sinh hormôn), Doping thần kinh (ngăn chặn điều khiển và phản hồi cơ bắp tới hệ thần kinh).
Sở dĩ doping bị cấm trong thi đấu thể thao bởi vì các chất kích thích nhìn chung đều có tác dụng đẩy nhanh tốc độ tuần hoàn máu, tăng cường khối lượng máu chảy về tim, làm tăng thể lực cùng sự tập trung cho các VĐV, làm cho cơ thể không bắt buộc phải nghỉ khi mệt. Điều này làm mất đi tính công bằng trong thi đấu thể thao, nhưng quan trọng hơn nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, thậm chí tính mạng của VĐV bởi các tác dụng phụ. Trong đó, nổi bật là một số “cập hại”: như VĐV nữ có xu thế nam hóa. Khi sử dụng thuốc tăng đồng hóa mà đại diện là các loại thuốc bắt nguồn từ kích dục tố nam testosterone nhằm làm tăng thể tích và sức mạnh cơ, các VĐV nữ có xu thế nam hóa như giọng nói trầm lại, nổi mụn, mọc râu, mọc lông và rối loạn kinh nguyệt. Còn VĐV nam có nguy cơ bị teo tinh hoàn, tinh dịch giảm và có thể dẫn đến liệt dương. Một tác dụng phụ khác là doping khiến các cơ bị suy yếu và làm to các đầu chi. Các nội tiết tố tăng trưởng thường được sử dụng với mục đích làm tăng sức bền cho VĐV. Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng nó sẽ làm yếu cơ, to các đầu chi hoặc gây bệnh tiểu đường. Bên cạnh đó, nó còn gây ra hội chứng run rẩy. Các thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương như amphetamin có vẻ giúp VĐV tăng sức. Nhưng khi dùng nhiều, chúng không làm tăng lực và sức bền cho cơ, mà còn gây ra hội chứng run rẩy, thiếu tự tin, mất ngủ dẫn đến suy nhược thần kinh. Ngoài ra, nó còn gây thêm các hội chứng như gây tán huyết, sốt, mẩn ngứa…
Hậu quả của việc sự dụng doping đã làm cho nhiều VĐV bị mắc các chứng bệnh hiểm nghèo, sức khoẻ thể chất và tinh thần đều sa sút. Thậm chí đã có nhiều VĐV thiệt mạng vì sử dụng doping. Trong thể thao xuất hiện thành ngữ gọi những VĐV sử dụng doping là những "con bù nhìn đê mê" trong thi đấu. Việc lạm dụng doping không chỉ gây nên sự không công bằng trong thành tích thể thao, sự lừa dối ở những tấm huy chương, mà nghiêm trọng hơn nó huỷ hoại nhân cách VĐV, huỷ hoại tâm hồn và cơ thể VĐV. Các trường hợp sử dụng doping thường thấy ở VĐV của một số môn thể thao: Điền kinh, Xe đạp, Bóng đá, Quyền anh, Quần vợt, Cử tạ, Bóng chày, ...

Các cán bộ đang tập huấn lấy mẫu xét nghiệm doping
Tăng cường các biện pháp chống doping
Nhiều cuộc họp của lãnh đạo Uỷ ban Olympic các quốc gia, lãnh đạo các Liên đoàn thể thao quốc tế đã bàn và đề ra những biện pháp cấp bách, cụ thể để kiểm tra và đưa hình thức xử phạt nghiêm khắc đối với các VĐV sử dụng chất kích thích, nhằm bảo vệ sự trong sáng của Hiến chương Olympic, bảo vệ những mục đích cao đẹp của TDTT.
Hội đồng Y học thể thao của Uỷ ban Olympic quốc tế đã nhiều lần cố gắng phối hợp với Cơ quan phòng chống doping quốc tế (WADA) đưa ra một bản danh sách những chất kích thích cấm sử dụng. Song nhiều người đã lợi dụng việc điều trị bệnh để đưa các chất kích thích có trong thuốc vào cơ thể nhằm mục đích doping, hoặc họ sử dụng các hợp chất cùng họ với các chất có trong danh mục thuốc cấm dùng. Để chống tình trạng này, khi biên soạn danh mục các loại thuốc cấm bao giờ cũng ghi thêm vào cuối câu: "... và những hợp chất cùng họ cũng bị cấm". Còn khi dùng thuốc để chữa bệnh, thầy thuốc phải chọn cho VĐV những loại thuốc nào không chứa những chất đã có trong danh mục cấm. Bởi khi đã xét nghiệm có kết quả dương tính thì dù với bất kỳ lý do gì VĐV đó cũng vẫn bị vị phạm Luật cấm sử dụng doping.
Một thực tế nữa mà người ta cũng thừa nhận rằng, không phải bác sĩ và HLV nào cũng coi việc chăm sóc VĐV mà họ phụ trách là công việc hàng đầu, thậm chí họ còn thúc bách VĐV phải giành chiến thắng bằng mọi giá. Nếu các cuộc thi đấu thể thao để cho suy thoái thành những cuộc đua tranh giữa các nhà dược lý học, các bác sĩ, các HLV... với các đấu thủ được dùng như vật thí nghiệm thì những cuộc thi đấu đó chắc chắn là trái với đạo lý tốt đẹp của TDTT.
Ở Việt Nam, mặc dù còn mới mẻ song vấn đề doping cần phải được đề cập đến một cách nghiêm túc. Bởi hiện nay, hiện tượng sử dụng doping đã xuất hiện trong một số cuộc thi đấu thể thao trong nước; VĐV, HLV và thầy thuốc còn thiếu hiểu biết về vấn đề doping và chống doping như: doping là gì, thuốc nào và phương pháp nào được gọi là doping, tác hại trước mắt và lâu dài của doping như thế nào và luật lệ chống doping ra sao?... Việt Nam cũng đã từng đăng cai tổ chức các cuộc thi đấu cấp khu vực và châu lục như SEA Games, AIG, ABG… Năm 2016, Thông tư phòng, chống doping đã được ban hành, trong đó quy định rõ: Sau khi phát hiện VĐV sử dụng chất cấm, hội đồng xử phạt sẽ tổ chức điều trần và VĐV sẽ phải giải trình về những vấn đề liên quan đến hành vi sử dụng doping. Nếu bị phát hiện, VĐV sẽ bị đình chỉ thi đấu trong 4 năm thay vì 2 năm như trước đây. Ngoài mức phạt theo đề nghị của hội đồng xử phạt, các liên đoàn, hiệp hội thể thao, đơn vị chủ quản còn đưa ra những hình phạt bổ sung khác đối với VĐV. Những HLV, bác sĩ, cán bộ quản lý và người hỗ trợ VĐV nếu có hành vi lừa dối, ép buộc VĐV sử dụng doping, tùy thuộc vào mức độ vi phạm, cũng bị xử phạt từ 4 năm đến vĩnh viễn không được hành nghề.
Cùng với việc ban hành Thông tư, Phòng thí nghiệm kiểm tra doping tại Việt Nam cũng chính thức đi vào hoạt động. Số mẫu kiểm tra ngày càng tăng theo mỗi năm. Bên cạnh đó, Trung tâm Doping và Y học thể thao Việt Nam (VADA) cũng tăng cường các hoạt động tuyên truyền phòng chống doping đến tận các vùng, miền và cơ sở. Ông Nguyễn Văn Lỷ, Giám đốc VADA cho biết: “Gần đây ở Việt Nam hầu như năm nào cũng có VĐV vi phạm, do vô tình hoặc cố ý; Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Trung tâm là tích cực tuyên truyền rộng rãi các biên pháp phòng chống doping, thông báo và cập nhật danh sách các chất kích thích thông qua các lớp, khóa học ngắn hạn và ở nhiều vùng khác nhau”.
Mặc dù, hiện nay các phương pháp để kiểm tra doping đã phát triển rất tinh vi, song phải giáo dục cho mọi người nhận thức được rằng việc sử dụng doping là có hại rất sâu sắc tới sức khỏe, nhiều VĐV đã thiệt mạng do lạm dụng doping, sử dụng doping là vi phạm đến sự trong sáng về đạo đức, tâm lý và nhân cách VĐV chân chính, là bôi nhọ danh dự VĐV, danh dự đồng đội và cả quốc gia mình.
Do đó, việc tìm hiểu về doping và chống doping trong thể thao là một việc làm cần thiết trong giai đoạn trước mắt và lâu dài của một nền TDTT phát triển toàn diện và vững chắc. Chống doping còn là vấn đề có tính pháp luật trong thể chế Nhà nước Việt Nam về hoạt động TDTT.


Box thông tin:
- Tính đến thời điểm hiện nay, có 3 phương pháp doing bao gồm truyền máu hoặc các chế phẩm tương tự chứa hồng cầu nhằm làm tăng lượng hồng cầu trong máu vận động viên, ngoài mục đích điều trị; sử dụng ozon và các phương pháp lý hóa - sử dụng các biện pháp nhằm làm sai lệch kết quả xét nghiệm thực đối với mẫu nước tiểu, có thể bằng cách sử dụng các chất ức chế bài tiết thận.
- Các chất doping gồm chất kích thích, thuốc giảm đau gây nghiện, thuốc tăng đồng hóa, thuốc lợi tiểu, các hormone peptide và đồng đẳng. Ngoài ra, một số chất kích thích quen thuộc như rượu, bia, thuốc gây tê tại chỗ… cũng bị liệt vào danh sách các chất doping.
- Theo một nghiên cứu mới phát hiện, các VĐV sử dụng thuốc hóoc môn steroin – dạng phổ biến nhất trong thể thao, trong thời gian, có thể phát huy tác dụng kéo dài tới 10 năm sau khi người ngưng dùng.

Số lượt đọc:  53  -  Cập nhật lần cuối:  11/10/2017 03:20:29 PM